Giải phẫu - Giới thiệu & Lịch sử sớm


Giải phẫu học là một nhánh của khoa học đề cập đến việc nghiên cứu cấu trúc của các sinh vật sống. Thuật ngữ này bao gồm các lĩnh vực nghiên cứu cụ thể hơn như giải phẫu người, zootomy (giải phẫu động vật) và phytotomy (giải phẫu thực vật).


CÁC LOẠI ANATOMY
Khoa học chung về giải phẫu được tách thành:

Tổng giải phẫu
Còn được gọi là giải phẫu vĩ mô, giải phẫu địa hình, giải phẫu khu vực và nhân học, giải phẫu tổng thể là nghiên cứu về cấu trúc giải phẫu có thể nhìn thấy bằng mắt thường.

Giải phẫu vi thể
Nghiên cứu về cấu trúc giải phẫu rất nhỏ chỉ có thể được nghiên cứu khi sử dụng kính hiển vi.


LỊCH SỬ SỚM CỦA ANATOMY
Các nhà sử học cho rằng bắt đầu nghiên cứu về giải phẫu học sớm nhất là vào năm 1600 trước Công nguyên. Một tài liệu được gọi là 'Edwin Smith Phẫu thuật Phẫu thuật', xuất hiện từ thời kỳ này, cho thấy tim, gan, lá lách, bàng quang, tử cung và vùng dưới đồi là cơ quan được công nhận thời đó.

Một đường tiếp theo, 'Ebers pASSrus' có niên đại khoảng năm 1550 trước Công nguyên, mô tả chi tiết hoạt động của trái tim.


Đóng góp của Hy Lạp cho giải phẫu
Nghiên cứu khoa học về lĩnh vực được gọi là giải phẫu bắt đầu với sự ra đời của khoa học sinh học vào thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên.

Alcmaeon, một cư dân của Crotona vào thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, đã làm việc để cố gắng phân biệt bí ẩn về vị trí của trí thông minh của con người. Để tiếp tục nghiên cứu này, ông đã trở thành nhà khoa học nổi tiếng đầu tiên sử dụng các phân tích trong nghiên cứu sinh học.

Vào cuối thế kỷ thứ 5 và đầu thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên, bác sĩ Hy Lạp Aristotle đã ghi nhận nghiên cứu về hệ thống cơ xương, và được coi là nhà khoa học đầu tiên khám phá và ghi lại chức năng của van ba lá của tim.

Vào thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên, nhà khoa học Praxagoras được ghi nhận là người đầu tiên xác định sự khác biệt giữa các động mạch và tĩnh mạch. Ông cũng phác thảo một lý thuyết tiên tiến hơn về mối quan hệ giữa các cơ quan.

Sau đó, vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, hai bác sĩ phẫu thuật của Alexandrian tên là Herophilus và Erasistratus, đã thực hiện một hoạt động tiến hành sinh động - mổ xẻ chúng sinh. Các hoạt động sinh động chỉ được thực hiện trên những tội phạm bị kết án và kiến ​​thức khoa học thu được được coi là sự biện minh cho những đau khổ gây ra cho bọn tội phạm.

Vào thế kỷ thứ 2 sau công nguyên, bác sĩ Galen làm bác sĩ trưởng cho các đấu sĩ ở thành phố Pergamum của ông. Trong khả năng này, anh ta đã có được rất nhiều kiến ​​thức liên quan đến các loại vết thương mà các máy bay chiến đấu phải chịu cũng như về hệ thống cơ bắp nói chung.

Ngoài nhiệm vụ chính thức của mình, Galen đã tiến hành mổ xẻ vượn và lợn. Thông tin thu được trong các nghiên cứu này cung cấp nền tảng cho các bài viết khoa học của ông về các cơ quan của cơ thể. Bộ sưu tập các bản vẽ giải phẫu chó của ông đã trở thành "sách giáo khoa" giải phẫu được chấp nhận trong 1500 năm tiếp theo.


Giải phẫu trong thời Phục hưng
Năm 1489 sau Công nguyên, Leonardo da Vinci, có lẽ là học giả nổi tiếng nhất thời Phục hưng, đã bắt đầu một dự án hai mươi lăm năm liên quan đến việc mổ xẻ xác chết của con người và tạo ra một loạt 750 bản vẽ giải phẫu chi tiết.

Những bản vẽ này bao gồm các nghiên cứu về tất cả các khía cạnh của cơ thể con người, bao gồm cấu trúc xương, các cơ quan nội tạng, hệ thống cơ bắp và não.

Năm 1533, một sinh viên y khoa người Bỉ tên Vesalius trở nên bất mãn với nghiên cứu giải phẫu của mình tại Đại học Paris. Ông đã chọn bắt đầu nghiên cứu mổ xẻ xác chết của mình, một quyết định gây tranh cãi vào thời điểm đó. Tuy nhiên, công việc đã được đền đáp, và kiến ​​thức và kỹ năng kết quả của ông trong chủ đề giải phẫu đã dẫn đến việc ông được bổ nhiệm vào năm 1537 với tư cách là giáo sư phẫu thuật và giải phẫu tại Đại học. Các nghiên cứu về cơ thể của Versalius đánh dấu sự khởi đầu của khoa học giải phẫu hiện đại.

Năm 1543, Vesalius xuất bản bảy tập De humani trais Fabrica (Cấu trúc của cơ thể con người), bản cập nhật đầu tiên được chấp nhận về kiến ​​thức giải phẫu y học kể từ các ấn phẩm của Galen khoảng 1400 năm trước.


Cấu tạo của hệ tuần hoàn
Nhà khoa học William Harvey được ghi nhận là người có những đóng góp lớn nhất cho nghiên cứu về giải phẫu và sinh lý học. Cuốn sách của Harvey, Bài tập anatomica de motu cordis et sanguinis trong Animalbus ("Chức năng giải phẫu của sự chuyển động của tim và máu ở động vật"), đã được xuất bản năm 1628 sau Công nguyên và đã chứng minh chính xác hoạt động của hệ thống tuần hoàn.

Tác phẩm dài năm mươi hai trang của Harvey là kết quả của quá trình nghiên cứu dài của ông, thông qua mổ xẻ, tất cả các loại động vật. Cuối cùng anh ta đã có thể chứng minh rằng cơ thể chỉ chứa một nguồn cung cấp máu duy nhất, với cơ tim hoạt động như một máy bơm.

Giải phẫu học: giải phẫu tim (ĐH VTT) (Tháng Tám 2020)



ĐiềU Thẻ: Giải phẫu - Giới thiệu & Lịch sử sớm, Sinh học, giải phẫu học, giải phẫu học, Deborah Watson-Novacek, mổ xẻ, giải phẫu vĩ mô, giải phẫu địa hình, giải phẫu khu vực, nhân chủng học, giải phẫu kính hiển vi, phẫu thuật cắt bỏ, phytotomy, Alcmaeon. aristotle, galen, Praxagoras, Herophilus, Erasistratus, william harvey, vesalius, Leonardo da Vinci